Góc Nhìn | Trọng Tài Quốc Tế Trong Tranh Chấp Thương Mại Đa Tài Phán: Khả Năng Áp Dụng Và Thi Hành Của Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời

22, Tháng 8, 2026

Tác giả: Hưng Ngô, Châu Nguyễn và Thư Nguyễn

Trong những năm gần đây, trọng tài quốc tế ngày càng được sử dụng phổ biến trong các giao dịch thương mại xuyên biên giới, đặc biệt khi doanh nghiệp mong muốn một cơ chế giải quyết tranh chấp trung lập và có khả năng được công nhận, thi hành tại nhiều quốc gia. Trong đó, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (“SIAC”) là một lựa chọn phổ biến của các giao dịch lớn, quan trọng liên quan đến doanh nghiệp Việt Nam.

Mức độ phổ biến này không còn là cảm nhận. Theo Báo cáo thường niên năm 2025 của SIAC, các bên Việt Nam lần đầu tiên góp mặt trong nhóm 5 người dùng nước ngoài lớn nhất của trung tâm này – đứng thứ hai với 337 bên tham gia – trong tổng số 886 vụ việc mới với tổng trị giá tranh chấp lên tới 14,53 tỷ USD.

Nhưng thực tiễn thương mại quốc tế gần đây cũng cho thấy mặt còn lại của bức tranh. Trong vụ Trafigura v Gupta được xét xử tại Tòa án Thương mại Anh (phán quyết đầu năm 2026), một trong những tập đoàn kinh doanh hàng hóa lớn nhất thế giới đã trả gần 500 triệu USD cho các lô hàng được mô tả là niken chuẩn LME; khi kiểm tra, phần lớn container thực tế chỉ chứa thép không gỉ, nhôm hoặc sắt briquette thay vì niken, đi kèm các chứng từ vận chuyển, trong đó có vận đơn, bị lập sai nhằm thể hiện rằng hàng hóa là niken. Đáng chú ý cho chủ đề của bài viết này: để chặn việc tẩu tán tài sản, bên mua đã phải xin lệnh phong tỏa tài sản toàn cầu từ tòa án quốc gia; và ngay cả khi đã thắng gần như toàn bộ về nội dung, việc truy vết và thu hồi tài sản vẫn phải tiếp tục trong một giai đoạn tố tụng riêng. Thắng trên giấy là một chuyện – chạm được vào tài sản là một chuyện khác, và khoảng cách giữa hai điều đó thường được quyết định ngay trong những ngày đầu tiên của tranh chấp bởi các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thông thường, việc lựa chọn trọng tài được thể hiện ngay từ khi ký hợp đồng thông qua một điều khoản khá đơn giản, chẳng hạn: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài …”. Điều khoản này thường được nhìn nhận chủ yếu như một lựa chọn về cơ chế và địa điểm giải quyết tranh chấp ở thời điểm ký kết.

Tuy nhiên, khi tranh chấp phát sinh, đặc biệt trong các tranh chấp đa tài phán khi tài sản hoặc chủ thể liên quan ở nhiều quốc gia, lựa chọn này có thể kéo theo một vấn đề khác: nếu cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (“BPKCTT”) đối với tài sản hoặc chủ thể tại Việt Nam, liệu quyết định áp dụng của Hội đồng trọng tài nước ngoài có thể được thực thi tại Việt Nam hay không?

Đây là vấn đề mà doanh nghiệp có thể chưa nghĩ đến khi ký hợp đồng, nhưng lại trở nên đặc biệt quan trọng khi tranh chấp phát sinh và việc bảo toàn tài sản hoặc ngăn chặn một hành vi cần được thực hiện ngay tại Việt Nam. Bởi lẽ, việc một Hội đồng trọng tài nước ngoài có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT không đồng nghĩa với việc quyết định đó đương nhiên có thể được cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam cưỡng chế thực hiện. Hệ quả là một nghịch lý mà không ít doanh nghiệp chỉ nhận ra khi đã quá muộn: có thể thắng trên phán quyết, nhưng vẫn thua ở khâu thi hành – khi tài sản đã bị dịch chuyển và thiệt hại trở nên không thể khắc phục trước khi phán quyết kịp phát huy giá trị.

Bài viết này sẽ phân tích vấn đề nêu trên dưới góc độ pháp luật Việt Nam, đồng thời xem xét những hệ quả mà doanh nghiệp có thể đối mặt và một số điểm cần lưu ý khi thiết kế điều khoản giải quyết tranh chấp ngay từ giai đoạn đàm phán hợp đồng.

  1. Quy định pháp luật Việt Nam về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và điểm hạn chế

Pháp luật Việt Nam ghi nhận hai thiết chế có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT tại Việt Nam là Tòa án và Trọng tài thương mại Việt Nam (“TTTMVN”). Tuy nhiên, giữa hai thiết chế này có sự khác biệt đáng lưu ý về chủ thể có thẩm quyền ra quyết định, thời điểm nộp đơn yêu cầu và phạm vi thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT của hai thiết chế này.

Thứ nhất, về chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT. Theo Điều 112 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (“BLTTDS 2015”), trong tố tụng tại Tòa án, BPKCTT có thể được ra quyết định áp dụng bởi một thẩm phán được phân công hoặc Hội đồng xét xử, tùy thuộc vào thời điểm bên yêu cầu nộp đơn.

Trong khi đó, đối với TTTMVN, thẩm quyền áp dụng BPKCTT thuộc về Hội đồng trọng tài (“HĐTT”). Pháp luật Việt Nam hiện không trao thẩm quyền này cho Trọng tài viên khẩn cấp. Đáng chú ý, Quy tắc Tố tụng Trọng tài VIAC 2026 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) – lần sửa đổi lớn đầu tiên kể từ phiên bản 2017 – đã bổ sung nhiều cơ chế mới như thủ tục rút gọn (Điều 24 và Phụ lục II), gộp vụ tranh chấp và bổ sung bên tranh chấp (Điều 17, Điều 18), song vẫn chưa thiết lập cơ chế Trọng tài viên khẩn cấp. Điều này là dễ hiểu: chừng nào Luật trọng tài thương mại 2010 (“LTTTM 2010”) chưa được sửa đổi, thẩm quyền áp dụng BPKCTT vẫn chỉ được luật trao cho Hội đồng trọng tài, và một trung tâm trọng tài khó có thể tự trao thẩm quyền này cho Trọng tài viên khẩn cấp thông qua quy tắc tố tụng của mình. Thủ tục rút gọn có thể giúp rút ngắn thời gian thành lập HĐTT, nhưng không xóa được khoảng trống bảo vệ khẩn cấp phân tích dưới đây. Vì vậy, nếu lựa chọn yêu cầu HĐTT áp dụng BPKCTT, bên yêu cầu về nguyên tắc phải chờ HĐTT được thành lập trước khi yêu cầu được xem xét. Khoảng thời gian này có thể tạo ra một khoảng trống trong việc bảo vệ khẩn cấp. Trường hợp các bên không có thỏa thuận trước về cách thức lựa chọn trọng tài viên, việc thành lập HĐTT có thể mất ít nhất 45 ngày kể từ khi Trung tâm trọng tài gửi cho bị đơn thông báo về đơn khởi kiện và yêu cầu lựa chọn trọng tài viên. Trong khoảng thời gian chờ HĐTT được thành lập, tài sản có thể bị chuyển dịch hoặc hiện trạng tài sản có thể thay đổi. Khi HĐTT được thành lập và có thể xem xét yêu cầu BPKCTT, biện pháp cần áp dụng có thể đã không còn phát huy đầy đủ ý nghĩa “khẩn cấp” và bảo toàn ban đầu.

Thứ hai, về thời điểm nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT. Pháp luật Việt Nam không đặt ra một thời hạn cố định mà bên yêu cầu phải tuân thủ. Riêng trong tố tụng tại Tòa án, Điều 111.2 BLTTDS 2015 cho phép bên yêu cầu nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT đồng thời với đơn khởi kiện trong trường hợp cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp một cách khẩn cấp. Tuy nhiên, trên thực tế, việc yêu cầu áp dụng BPKCTT ngay tại thời điểm nộp đơn khởi kiện có thể gặp khó khăn trong quá trình xem xét, do Thẩm phán phải xử lý yêu cầu trong thời gian rất ngắn và đồng thời đánh giá các điều kiện cần thiết để quyết định áp dụng biện pháp. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng được chấp nhận và tính kịp thời của BPKCTT.

Thứ ba, về phạm vi thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT. Tòa án có phạm vi thẩm quyền rộng hơn. Theo Điều 111.1 BLTTDS 2015 và Điều 48.1 LTTTM, Tòa án không chỉ có thể áp dụng BPKCTT đối với vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà còn có thể áp dụng BPKCTT để hỗ trợ cho tranh chấp đang được giải quyết bằng trọng tài. Đây là một “van an toàn” quan trọng cho trọng tài tại Việt Nam: theo Điều 48.1 và Điều 53 LTTTM 2010, ngay sau khi nộp đơn khởi kiện tại trọng tài, một bên đã có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền áp dụng BPKCTT mà không phải chờ HĐTT được thành lập. Cơ chế hỗ trợ này vừa lấp đáng kể “khoảng trống 45 ngày” nêu trên, vừa cho phép với tới bên thứ ba đang nắm giữ tài sản (thông qua các biện pháp theo BLTTDS 2015, ví dụ phong tỏa tài khoản tại tổ chức tín dụng) – điều mà bản thân HĐTT không làm được. Cần lưu ý nguyên tắc không song trùng: nếu một bên đã yêu cầu HĐTT áp dụng BPKCTT thì Tòa án sẽ từ chối thụ lý cùng yêu cầu đó, trừ trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT không thuộc thẩm quyền của HĐTT (Điều 53.5 LTTTM 2010), nên việc lựa chọn cơ quan nào cần được tính toán ngay từ đầu. Ngược lại, HĐTT chỉ có thẩm quyền áp dụng BPKCTT đối với tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của chính HĐTT. Do đó, xét về phạm vi, thẩm quyền của Tòa án rộng hơn thẩm quyền của HĐTT trong việc áp dụng BPKCTT.

Đối với trọng tài có địa điểm ở nước ngoài, bức tranh kém rõ ràng hơn đáng kể. Về mặt văn bản, LTTTM 2010 và BLTTDS 2015 không có quy định trực tiếp trao cho Tòa án Việt Nam thẩm quyền áp dụng BPKCTT nhằm hỗ trợ một tố tụng trọng tài ở nước ngoài. Tuy vậy, thực tiễn đã ghi nhận ít nhất một trường hợp Tòa án nhân dân tại Hải Phòng chấp nhận áp dụng BPKCTT trong khi tranh chấp đang được giải quyết bằng trọng tài ở nước ngoài – vụ việc từng được giới hành nghề trong và ngoài nước phân tích. Đáng chú ý, biện pháp này sau đó đã bị hủy bỏ theo chính đơn yêu cầu của bên đã xin áp dụng, do đó vụ việc chưa hình thành một tiền lệ ổn định, và câu hỏi về cơ sở pháp lý của hướng đi này vẫn còn để ngỏ. Nói cách khác, cơ chế yêu cầu áp dụng BPKCTT hiện chỉ vận hành một cách chắc chắn đối với trọng tài tại Việt Nam; với trọng tài nước ngoài, sự hỗ trợ của Tòa án Việt Nam mới dừng ở tín hiệu thực tiễn đơn lẻ và chưa thể được xem là một cơ chế bảo vệ đủ tin cậy để doanh nghiệp đặt cược chiến lược tố tụng của mình.

Như vậy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã ghi nhận cơ chế áp dụng BPKCTT trong cả tố tụng Tòa án và trọng tài, việc tiếp nhận và giải quyết yêu cầu trên thực tế vẫn có thể gặp những hạn chế nhất định về trình tự và thời gian xử lý. Riêng đối với trọng tài có địa điểm ở nước ngoài, vướng mắc không chỉ nằm ở khâu áp dụng, mà chủ yếu nằm ở khâu công nhận và cho thi hành, như được phân tích tại Mục 2 dưới đây.

  1. Quy định pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo Điều 142.1 BLTTDS 2015 và Điều 50.5 LTTTM 2010, quyết định áp dụng BPKCTT do Tòa án Việt Nam hoặc do Hội đồng trọng tài trong tố tụng trọng tài tại Việt Nam ban hành có hiệu lực thi hành ngay và được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự, không phải qua bất kỳ thủ tục công nhận nào khác.

Trong khi đó, quyết định BPKCTT do Tòa án nước ngoài hoặc Hội đồng trọng tài nước ngoài ban hành, muốn được cưỡng chế tại Việt Nam, phải đi qua cơ chế công nhận và cho thi hành. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chỉ quy định việc công nhận và cho thi hành đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và phán quyết của trọng tài nước ngoài, với những điều kiện mà một quyết định khẩn cấp tạm thời khó có thể đáp ứng, như phân tích dưới đây.

Đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, Điều 423 và Điều 439 BLTTDS 2015 quy định về phạm vi và những trường hợp bản án, quyết định được và không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Đáng chú ý, Điều 439.2 BLTTDS 2015 loại trừ trường hợp “bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa  án đã ra bản án, quyết định đó”. Điều này cho thấy cơ chế công nhận của Việt Nam được thiết kế chủ yếu cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực, trong khi một quyết định khẩn cấp tạm thời về bản chất thường không nhằm giải quyết dứt điểm tranh chấp và không mang tính chung thẩm.

Đối với phán quyết của Trọng tài nước ngoài, Điều 424.2 BLTTDS 2015 cũng xác định phán quyết được xem xét công nhận và cho thi hành là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành. Trong khi đó, BPKCTT chỉ mang tính chất tạm thời và tồn tại trong khoảng thời gian nhất định. Do đó, quyết định áp dụng BPKCTT được ban hành trước khi có phán quyết cuối cùng không nằm trong cơ chế công nhận và cho thi hành hiện hành tại Việt Nam.

Ở bình diện quốc tế, đây không phải là vấn đề của riêng Việt Nam. Công ước New York 1958 chỉ áp dụng đối với phán quyết trọng tài mang tính chung thẩm, nên quyết định BPKCTT nhìn chung nằm ngoài phạm vi công nhận và cho thi hành theo Công ước. Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế (bản sửa đổi năm 2006) đã bổ sung cơ chế công nhận và cho thi hành BPKCTT của Hội đồng trọng tài (các Điều 17H–17I), song Việt Nam hiện chưa nội luật hóa các quy định này. Một số quốc gia như Singapore hay Hồng Kông đã thiết lập cơ chế riêng cho phép thi hành BPKCTT của trọng tài, kể cả quyết định của Trọng tài viên khẩn cấp; tuy nhiên, hiệu lực cưỡng chế đó chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đã trao cơ chế.

Hệ quả thực tiễn là khi một quyết định khẩn cấp được ban hành bởi Tòa án hoặc Trọng tài nước ngoài, pháp luật Việt Nam hiện chưa thiết lập một cơ chế rõ ràng để quyết định đó được thi hành trực tiếp đối với chủ thể hoặc tài sản tại Việt Nam. Vì vậy, trên thực tế, bên yêu cầu khó có thể dựa ngay vào quyết định của cơ quan tài phán nước ngoài để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam cưỡng chế thực hiện. Quyết định có thể tạo áp lực để bên bị yêu cầu tự nguyện tuân thủ hoặc chịu các hệ quả pháp lý tại nước ban hành quyết định, nhưng những yếu tố này không thay thế được một cơ chế cưỡng chế tại Việt Nam.

Ngay cả trong trường hợp giả định quyết định tạm thời có thể được xem xét công nhận tại Việt Nam, một vấn đề khác vẫn phát sinh: thủ tục công nhận và cho thi hành cần có thời gian, trong khi nhu cầu của biện pháp khẩn cấp thường được tính bằng ngày, thậm chí bằng giờ. Đến khi quyết định được công nhận và có thể thực thi, tài sản có thể đã bị chuyển dịch, chứng cứ có thể đã bị thay đổi hoặc nghĩa vụ cần ngăn chặn đã được thực hiện, khiến mục đích ban đầu của biện pháp không còn đạt được. Nói cách khác, đối với biện pháp khẩn cấp, một cơ chế thi hành quá chậm về thực chất có thể không khác nhiều so với việc không có cơ chế thi hành. Đây là rủi ro đặc biệt đáng lưu ý trong các tranh chấp mà việc bảo toàn tài sản hoặc ngăn chặn một hành vi trong thời gian ngắn có ý nghĩa quyết định đối với khả năng bảo vệ quyền lợi của bên yêu cầu.

  1. Bên thứ ba nằm ngoài thỏa thuận trọng tài

Pháp luật Việt Nam không trao cho Hội đồng trọng tài thẩm quyền áp dụng BPKCTT đối với bên thứ ba: Điều 49.1 LTTTM 2010 giới hạn rõ phạm vi áp dụng là “đối với các bên tranh chấp”. Thỏa thuận trọng tài về nguyên tắc chỉ ràng buộc các chủ thể đã ký kết thỏa thuận trọng tài. Trong khi đó, trong các tranh chấp đa tài phán, tài sản hoặc dòng tiền liên quan đến tranh chấp có thể do những chủ thể khác nắm giữ hoặc kiểm soát, chẳng hạn ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán hoặc bên bảo đảm, đơn vị vận chuyển hay kho hàng – những chủ thể không phải bên của thỏa thuận trọng tài. Khi đó, dù Hội đồng trọng tài có thể giải quyết tranh chấp và xác định nghĩa vụ giữa các bên ký kết, nhưng không đương nhiên có quyền áp đặt nghĩa vụ đối với một bên thứ ba không tham gia thỏa thuận trọng tài, đặc biệt khi biện pháp cần áp dụng liên quan đến tài sản hoặc hoạt động của chủ thể đó tại một quốc gia khác. Điều này khác với thẩm quyền của Tòa án, khi Tòa án có quyền áp dụng BPKCTT đối với bên thứ ba theo yêu cầu và khi xét thấy có đủ căn cứ theo BLTTDS 2015, điển hình là các biện pháp phong tỏa tài khoản tại tổ chức tín dụng, phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ (Điều 114.10 BLTTDS 2015) – các biện pháp tác động trực tiếp đến ngân hàng hoặc bên thứ ba đang nắm giữ tài sản.

Giới hạn này không phải là đặc thù của pháp luật Việt Nam, mà là giới hạn cố hữu của trọng tài với tư cách một thiết chế dựa trên sự đồng thuận – và nó không biến mất ngay cả tại các tổ chức trọng tài hàng đầu. Quy tắc SIAC 2025 (phiên bản thứ 7, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025) thiết lập một trong những cơ chế khẩn cấp mạnh nhất hiện nay: bên yêu cầu có thể đề nghị chỉ định Trọng tài viên khẩn cấp ngay cả trước khi nộp Đơn khởi kiện trọng tài, và có thể xin Lệnh bảo vệ sơ bộ (Protective Preliminary Order) theo thủ tục ex parte – không thông báo trước cho bên bị yêu cầu – với thời hạn Trọng tài viên khẩn cấp phải ra quyết định trong vòng 24 giờ kể từ khi được chỉ định.

Tuy nhiên, ngay cả cơ chế mạnh như vậy cũng chịu hai giới hạn cốt lõi. Thứ nhất, mệnh lệnh của Trọng tài viên khẩn cấp hay Hội đồng trọng tài về nguyên tắc chỉ ràng buộc các bên của thỏa thuận trọng tài: ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán hay các chủ thể khác đang nắm giữ tài sản, dòng tiền không thể bị buộc phải tuân thủ; việc bổ sung một bên vào tố tụng trọng tài cũng chỉ khả thi khi bên đó bị ràng buộc bởi thỏa thuận trọng tài hoặc chấp thuận tham gia. Thứ hai, hiệu lực cưỡng chế mang tính lãnh thổ: quyết định khẩn cấp của trọng tài có thể được thi hành tại Singapore theo Luật Trọng tài quốc tế của nước này, nhưng khi tài sản hoặc bên thứ ba nằm tại một quốc gia chưa có cơ chế công nhận tương ứng – như phân tích tại Mục 2 đối với Việt Nam – bên yêu cầu vẫn phải quay về tòa án quốc gia nơi có tài sản hoặc chủ thể đó để tìm kiếm sự bảo vệ.

Có thể tóm tắt ba con đường tiếp cận biện pháp khẩn cấp tạm thời của doanh nghiệp trong bảng so sánh sau:

Tiêu chí Tòa án Việt Nam Trọng tài tại Việt Nam Trọng tài nước ngoài (ví dụ: SIAC)
Chủ thể ra quyết định BPKCTT Thẩm phán được phân công hoặc Hội đồng xét xử (Điều 112 BLTTDS 2015) Hội đồng trọng tài, sau khi được thành lập (Điều 49 LTTTM 2010) Hội đồng trọng tài hoặc Trọng tài viên khẩn cấp theo quy tắc của tổ chức trọng tài
Thời điểm sớm nhất có thể yêu cầu Ngay khi nộp đơn khởi kiện (Điều 111.2 BLTTDS 2015) Sau khi HĐTT được thành lập – có thể mất khoảng 45 ngày trở lên; riêng kênh Tòa án hỗ trợ: ngay sau khi nộp đơn khởi kiện trọng tài (Điều 53 LTTTM 2010) Rất sớm: theo Quy tắc SIAC 2025, có thể xin chỉ định Trọng tài viên khẩn cấp trước cả khi nộp Đơn khởi kiện trọng tài
Áp dụng đối với bên thứ ba (ngân hàng, kho hàng…) Có thể, khi có đủ căn cứ (ví dụ Điều 114 BLTTDS 2015) Không – chỉ đối với các bên tranh chấp (Điều 49.1 LTTTM 2010); nhưng có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam hỗ trợ áp dụng đối với bên thứ ba Không – chỉ ràng buộc các bên của thỏa thuận trọng tài; và chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để yêu cầu Tòa án Việt Nam hỗ trợ
Khả năng thi hành tại Việt Nam Thi hành ngay theo pháp luật thi hành án dân sự Thi hành ngay theo pháp luật thi hành án dân sự Chưa có cơ chế công nhận và cho thi hành đối với quyết định BPKCTT
Điểm mạnh chính Cưỡng chế trực tiếp, phạm vi đối tượng rộng Gắn liền với tố tụng nội dung khi tranh chấp được giải quyết tại Việt Nam Nhanh, linh hoạt, bảo mật; hiệu lực thực tế tại các quốc gia đã có cơ chế thi hành (ví dụ Singapore)

Như vậy, để thắng được vụ tranh chấp, đương sự có thể chỉ cần đến trọng tài; nhưng để thực sự chạm được vào tài sản, lại phải quay sang tòa án quốc gia nơi tài sản hoặc chủ thể thứ ba hiện diện. Kết quả, thay vì giải quyết tranh chấp trong một cơ chế duy nhất, đương sự có thể phải tham gia hai thủ tục tố tụng song song: một bên là trọng tài để giải quyết tranh chấp với đối tác, một bên là tòa án quốc gia để tìm kiếm sự hỗ trợ hoặc cưỡng chế đối với tài sản và bên thứ ba. Điều này không chỉ làm tăng chi phí và kéo dài thời gian xử lý mà còn khiến chiến lược tố tụng trở nên phức tạp hơn, đặc biệt khi các thủ tục diễn ra tại nhiều quốc gia với những quy định khác nhau.

  1. Khuyến nghị của Ngô & Partners dành cho doanh nghiệp

Bài học xuyên suốt từ những phân tích trên là: giá trị thực của một phán quyết nằm ở khả năng thi hành. Vì vậy, ngay khi tranh chấp phát sinh, doanh nghiệp cần cùng luật sư rà soát toàn bộ các cơ chế có thể giúp duy trì hiện trạng và bảo toàn tài sản – từ tòa án nơi có tài sản hoặc nơi bên thứ ba nắm giữ dòng tiền, các công cụ khẩn cấp của tổ chức trọng tài, đến các biện pháp bảo đảm mang tính thương mại – thay vì chỉ trông cậy vào một diễn đàn duy nhất, nhằm tránh những thiệt hại không thể khắc phục phát sinh từ chính các giới hạn nêu trên.

  • Doanh nghiệp nên tính toán ngay từ đầu về khả năng thi hành BPKCTT đối với tài sản hoặc chủ thể tại Việt Nam. Trong trường hợp cần sự can thiệp khẩn cấp tại Việt Nam, Tòa án Việt Nam có thể là lựa chọn thực tế hơn TTTMVN do có thẩm quyền trực tiếp và cơ chế cưỡng chế rõ ràng hơn; trong khi đó, nếu lựa chọn trọng tài nước ngoài, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý rằng BPKCTT hiện chưa có cơ chế rõ ràng để được thi hành tại Việt Nam. Vì vậy, việc lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp cần được cân nhắc đồng thời với vị trí của tài sản, chủ thể liên quan và khả năng bảo đảm hiệu quả thi hành BPKCTT. Bên cạnh đó, chi phí đáng kể của tố tụng trọng tài quốc tế cũng cần được đặt trong tương quan với giá trị tranh chấp và khả năng thu hồi trên thực tế.
  • Doanh nghiệp nên tìm kiếm sự hỗ trợ của Tòa án khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với bên thứ ba trước khi tìm đến HĐTT. Cần lưu ý rằng việc yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT không bị coi là bác bỏ thỏa thuận trọng tài hay khước từ quyền giải quyết tranh chấp bằng trọng tài (Điều 48.2 LTTTM 2010), do đó doanh nghiệp có thể chủ động sử dụng song song hai cơ chế này.
  • Thiết kế biện pháp bảo đảm ngay từ khâu soạn thảo hợp đồng. Điều khoản giải quyết tranh chấp nên được cân nhắc đồng bộ với các biện pháp bảo đảm thanh toán và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (bảo lãnh ngân hàng không hủy ngang, ký quỹ, tài khoản phong tỏa/escrow…). Một cấu trúc bảo đảm tốt sẽ giảm đáng kể nhu cầu phải xin BPKCTT tại nhiều quốc gia khi tranh chấp phát sinh.
  • Hành động sớm và phối hợp đồng bộ giữa các diễn đàn. Hiệu quả của biện pháp khẩn cấp phụ thuộc trước hết vào thời điểm yêu cầu. Khi tranh chấp có dấu hiệu phát sinh, doanh nghiệp cần sớm xác định nơi có tài sản, nơi có bên thứ ba nắm giữ dòng tiền và diễn đàn giải quyết nội dung tranh chấp, từ đó xây dựng một chiến lược phối hợp thống nhất giữa các thủ tục, thay vì xử lý riêng lẻ từng nơi.
  • Với các hợp đồng đã ký điều khoản trọng tài nước ngoài, hãy chuẩn bị từ trước khi tranh chấp phát sinh. Điều khoản đã ký thì khó đàm phán lại, nhưng doanh nghiệp vẫn hoàn toàn chủ động được ở khâu chuẩn bị: lập bản đồ tài sản và dòng tiền của đối tác (tài khoản, hàng hóa, công cụ thanh toán đang nằm ở đâu, do ai nắm giữ); xác định trước tòa án nào có thể can thiệp nếu cần bảo toàn khẩn cấp; và khi xuất hiện dấu hiệu bất thường, hành động ngay trong những ngày đầu thay vì chờ thương lượng bế tắc – bởi như các phân tích ở trên cho thấy, cánh cửa bảo toàn tài sản thường chỉ mở trong một khoảng thời gian rất ngắn. Khi có dịp sửa đổi, gia hạn hợp đồng, cũng nên tận dụng để đàm phán bổ sung các biện pháp bảo đảm.

Năm câu hỏi doanh nghiệp nên tự trả lời trước khi ký điều khoản giải quyết tranh chấp:

  1. Tài sản và dòng tiền của đối tác nằm ở đâu, do ai nắm giữ?
  2. Nếu cần phong tỏa tài sản hoặc dừng một dòng tiền trong vòng một tuần, cơ chế nào làm được điều đó – và có với tới được bên thứ ba đang nắm giữ tài sản không?
  3. Quyết định khẩn cấp của diễn đàn dự kiến lựa chọn có thi hành được tại quốc gia nơi có tài sản không?
  4. Chi phí tố tụng dự kiến có tương xứng với giá trị hợp đồng và khả năng thu hồi thực tế không?
  5. Có biện pháp bảo đảm thương mại nào (bảo lãnh không hủy ngang, ký quỹ, escrow…) thay thế hoặc giảm bớt nhu cầu xin biện pháp khẩn cấp không?

Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin chung, không cấu thành ý kiến tư vấn pháp lý cho bất kỳ vụ việc cụ thể nào. Để được tư vấn cho tình huống cụ thể, vui lòng liên hệ Ngô & Partners.

CÔNG TY LUẬT TNHH NGÔ & PARTNERS

Địa chỉ: Phòng 903, Tầng 9, Tòa nhà Diamond Plaza, 34 Lê Duẩn, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Văn phòng giao dịch: Biệt thự số 28, Đường số 53B, Phường Cát Lái, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Điện thoại: (028) 6292 5555
Hotline: 097 999 7008
Email: info@ngo-partners.com
Website: www.ngo-partners.com